Khổng Tử Chu Du Các Nước

Thời gian: Chưa rõ

Với sự giúp đỡ của Ngũ Tử Tư và Tôn Vũ, Ngô vương Hạp Lư đánh bại được nước Sở, thanh thế rất lớn, ngay một số nước ở Trung Nguyên cũng bị uy hiếp, trước hết là nước Tề. Nước Tể từ sau khi Tể Hoàn Công mất đi, trong nước luôn mất ổn định. Đến khi Tề cảnh Công lên ngôi vua, dùng được một đại thần tài giỏi là Án Anh làm tướng quốc, đổi mới triều chính, nước Tề mới hưng thịnh trở  lại.

Lịch sử Trung Quốc năm 500 trước Công nguyên, Tể Cảnh Công và Án Anh muốn lôi kéo nước Lỗ láng giềng cùng các nước chư hầu khác, xây dựng lại nghiệp bá thời Tề Hoàn Công, liền viết thư cho Lỗ Định Công, hẹn cùng nhau hội họp ở Giáp Cốc, trên biên giới Tề – Lỗ.

Lúc bấy giờ, khi chư hầu hội họp, đều phải có một đại thần làm trợ thủ, gọi là “tướng lễ”. Lỗ Định Công quyết định để quan tư khấu (quan đứng đầu ngành tư pháp) nước Lỗ là Khổng Tử đảm nhiệm công việc đó.

Khổng Tử tên là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, người Ấp Trâu (nay ở đông nam Khúc Phụ, Sơn Đông). Cha ông là một võ quan cấp thấp, đã mất khi ông mới ba tuổi. Mẹ ông đưa ông đến Khúc Phụ, nuôi dạy ông thành người. Theo nói lại, từ nhỏ ông đã thích học lễ tiết, khi nhàn rỗi, thường học theo người lớn, làm nghi thức tế lễ trời đất, tổ tiên.

Khi lớn lên, Khổng Tử học hành chăm chỉ. Ông hết sức sùng bái Chu Công, người đã đặt ra lễ nhạc cho nhà Chu. Ông am hiểu lễ tiết thời cổ, tương đối tinh thông ”lục nghệ”, tức là lễ tiết, âm nhạc, bắn tên, đánh xe, viết chữ, tính toán (lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số) là những môn học chính thời đó. Ông làm việc nghiêm túc, khi còn làm chức lại nhỏ giữ kho, không bao giờ để mất mát vật tư; sau lại làm chức quản lý gia súc, đã làm gia súc lớn mau, sinh đẻ nhiều. Khi chưa đầy ba mươi tuổi, tiếng tăm đã dần dần lan rộng.

Có một số người muốn theo học ông, ông liền mở một trường tư, thu nhận học sinh. Quan đại phu nước Lỗ là Mạnh Hy Tử trước khi chết, đã dặn hai con là Mạnh Ý Tử và Nam Cung Kính Thúc đến học lễ ở Khổng Tử. Dựa vào sự tiến cử của Nam Cung Kính Thúc, Lỗ Chiêu Công đã phái Khổng Tử đến đô thành nhà Chu là Lạc Ấp để khảo sát lễ nhạc của triều Chu.

Đến năm Khổng Tử ba lăm tuổi, Lỗ Chiêu Công bị ba quan đại phu cầm quyền là Quí Tôn Thị, Mạnh Tôn Thị và Thúc Tôn thị đuổi đi. Khổng Tử liền sang nước Tề, xin gặp Tề Cảnh Công, nói chuyện với Tề cảnh Công về chủ trương chính trị của mình. Tề cảnh Công tiếp đãi rất trân trọng và toàn sử dụng Khổng Tử, nhưng tướng quốc Án Anh cho rằng chủ trương của Khổng Tử không thực tế, nên Tề cảnh Công không dùng ông nữa. Khổng Tử tại trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học số học sinh theo học Khổng Tử càng ngày càng nhiều.

Untitled

Năm 501 trước Công nguyên, Lỗ Định Công phong Khổng Tử làm quan Tể đất Trung Đô (nay ở huyện Vấn Thượng, tỉnh Sơn Đông), năm sau (500 trước Công nguyên), thăng làm quan Tư Không (chức quan đứng đầu coi việc xây dựng) rồi lại điều sang làm Tư Khấu.

Lúc đó, LỖ Định Công nói cho Khổng Tử biết việc chuẩn bị đến Giáp Cốc để hội minh vói nưóc Tề. Khổng Tử nói: “Nước Tề nhiều lần xâm phạm biên giới ta. Lần này hẹn ta đến hội, ta cần chuẩn bị binh mã, xin đem theo cả hai quan Tả, Hữu Tư Mã”,

Lỗ Định Công đồng ý với chủ trương của Khổng Tử, lại cử hai đại tướng đem theo binh mã, cùng ông tới Giáp Cốc.

Tại hội nghị Giáp Cổc, do Khổng Tử làm tưóng lễ, nên nước Lỗ giành được thắng lợi vể ngoại giao. Sau hội nghị, Tề Cảnh Công quyết định trao trả lại Lỗ ba vùng đất ở Vấn Dương (nay ở tây nam Thái An Sơn Đông) trước kia Tề đã chiếm của Lỗ.

Quan đại phu nước Tề là Lê Trữ cho rằng Khổng Tử làm quan ở nước Lỗ thì không có lợi cho Tề, Hển khuyên Tể Cảnh Công gửi tặng Lỗ Định Công một đội nữ nhạc. Tề Cảnh Công đồng ý, liền chọn một đội nữ nhạc gồm mười tám người gửi sang nước Lỗ.

LỖ Định Công được đoàn nữ nhạc đó thì ngày nào cũng mài miệt vui chơi không còn chăm nom đến chính sự quốc gia’ nữa. Khổng Tử muốn vào can, nhưng Lỗ Định Công đều tránh mặt, Việc này làm Khổng Tử rất thất vọng, liền nói vói học trò: “Vua Lỗ không làm chính sự, chúng ta đi thôi’’.

Từ đó về sau, Khổng Tử rời bỏ nước Lỗ, dẫn một số học trò đi chu du các nước, hy vọng tìm được cơ hội thực hiện chủ trương chính trị của mình. Nhưng lúc đó, các nước lân thỉ bận vào các cuộc chiến tranh để giành bá quyển, nước nhỏ thì đứng trước nguy cơ bị thôn tính, toàn xã hội đều biên đổi mạnh mẽ. Những chủ trương khôi phục lễ nhạc triều Chu của Khổng Tử, đương nhiên không được ai tiếp nhận.

Trước sau, ông đã qua các nước Vệ, Tào, Tống, Trịnh, Trần, Thái, sỏ. Vua các nước đó đều không sử dụng ông.

Một lần, Khổng Tủ đang ở khoảng giữa Trần, Thái, Sỏ Chiêu Vương cử người đến mời ông. Quan đại phu các nước Trần, Thái sợ Khổng Tử đến nước sở, sẽ bất lợi cho họ, nên phái quân chặn đường. Khổng Tử bị vây khôn ồ đó, hết cả lương ăn, đã mấy ngày phải nhịn đói. Sau, nhò nước sỏ cho quân đến cứu, mới được giải vây.

Khổng Tử bôn ba các nước trong bảy tám năm, gặp nhiều gian truân, thất bại, tuổi mỗi năm một già. Cuối cùng, ông trở về nước Lỗ, dồn tinh lực và việc chỉnh lý sách vở văn hóa cổ và giáo dục môn đồ.

Trong những năm cuối đời, Khổng Tử đã chỉnh lý những điển tích văn hóa quan trọng thời cổ, như Kinh Thi, Thượng Thư, Xuân Thu. Kinh Thi là một tổng tập thi ca cổ của Trung Quốc gồm 305 bài thơ oa thòi Tây Chu và Xuân Thu, trong đó có nhiều ca dao phản ánh đòi sống của xã hội cổ đại, chiếm địa vị rất quan trọng trong lịch sử ván học Trung Quốc. Thượng thư là tập sách về các văn kiện lịch sử cổ đại Trung Quôc. Xuân Thu là một cuốn sử được ghi chép căn cứ vào sử liệu của nước LỖ, nội dung ghi chép sự việc lớn từ năm 722 đến năm 481 trước Công nguyên.

Năm 479 trước Công nguyên, Khổng Tử mất. Sau khi ông mất, các học trò truyền thụ học thuyết của ông, hình thành học phái Nho Gia. Khổng Tử trỏ thành người sáng lập học phái Nho Gia. Tư tưông học thuật của Khổng Tử có ảnh hưỏng rất lớn ỏ đòi sau. Ông được công nhận là nhà tư tưởng lớn, nhà giáo dục lớn thời cổ Trung Quốc.

Bình luận

Thông tin của bạn sẽ được bảo mật. Bình luận và góp ý để giúp Bienniensu.com ngày tốt hơn