Quân Khởi Nghĩa Khăn Vàng

Lịch sử Trung Quốc ghi chép lại Hán Linh Đế u mê, tin vào bọn hoạn quan, giao mọi việc triều chính cho chúng, chỉ vùi đầu vào ăn chơi hưởng lạc. Cửa kho nhà nước dùng hết, để kiếm tiền, bọn chúng liền lập ra một cửa hàng đặc biệt ở Tây Viên. Những kẻ có tiển có thể công khai đến đây để mua quan tước. Chúng treo bảng ngoài cửa Hồng Đô, yết rõ giá cả từng loại quan tuớc, Muôn mua chức thái thú một quận phải bỏ ra hai mươi triệu, chức huyện lệnh trị giá bốn triệu. Nếu chưa đủ tiền có thể mua chịu, sau khi nhận chức sẽ phải trả gấp đôi. Những kẻ bỏ tiền ra mua chức, khi làm quan liền ra sức bóc lột hút máu mủ dân chúng. Sự đen tối và hủ bại của vương triều Đông Hán có thế coi là tột đỉnh.

Sự thối nát của triều đĩnh, sự bóc lột của quan Lại cộng thêm thiên tai liên tiếp khiến dân không còn đưòng sông, chỉ còn cách vùng lên phản kháng.

Bắt đầu từ Ngô quận, một số nông dân nổi lên chiếm huyện thành, giết quan lại. Ớ quận Cỗi Kê, Hứa Sinh khởi binh ở Cú Chương (nay là Từ Khê, Triết Giang), chỉ trong mấy ngày đã tụ tập được hơn một vạn người. Hán Linh Đế hạ lệnh cho Thứ sử Dương Châu và thái thú Đan Dương đem quân đi dẹp, bị quân khởi nghĩa đánh bại. Thanh thế của Hứa Sinh ngày càng lừng lẫy liền tự xưng là “Dương Minh Hoàng đế”.

Nám 174, Tư mã Ngô quận chiêu mộ ngưòi ngựa, liên hợp vói quan binh các châu quận, đánh bại Hứa Sính. Quân khởi nghĩa Ngô quận tuy bị trấn áp, nhưng một cuộc khởi nghĩa vũ trang lớn hơn đang được nhen nhóm.

ở quận Cự Lộc có ba anh em, người anh cả là Trương Giác, hai em là Trương Bảo và Trương Lương. Cả ba đều có tài và có hoài bão cứu dân.

Trương Giác biết nghề y, chữa bệnh cho người nghèo không bao giờ lấy tiền, nên được người nghèo quý mến và tin theo.

Ông biết nông dân chịu sự áp bức bóc lột của địa chủ cường hào và gánh chịu mọi tai hoạ thiên nhiên, luôn ước mong một cuộc sống thái bình để sống yên ổn. Ông quyết định tổ chức họ lại dưói hình thức tôn giáo, lập ra một đạo gọi là Thái Bình giáo thu nạp một số đệ tử, cùng đi truyền giáo với ông.

Người tin theo Thái Bình giáo ngày càng nhiều. Trương Giác cử em là Trương Bảo, Trương Lương và các đệ tử đi các nơi vừa chữa bệnh, vừa truyền đạo. Sau khoảng mười năm Thái Bình giáo đã truyền đi khắp nước. Dân chúng cả những người theo đạo và không theo đạo, không ai là không biết Thái Bình giáo. Tín đồ các ndi có đến mấy chục vạn.

Lúc đó, quan lại các địa phương mới chỉ biết Thái Bình giáo khuyên người ta làm điều thiện và chữa bệnh cho mọi người, không có ai lưu tâm hỏi han cặn kẽ. Trong triều có hai đại thần thấy được mầm mống của nó liền tâu xin Hán Linh Đế hạ lệnh cấm Thái Bin’: giáo. Hán Linh Đế còn mải lo xây dựng cung điện và hoa viên, không hề chú ý đến Thái Bình giáo. Anh em Trương Giác tổ chức mấy chục vạn nông dân trong tám châu lại, chia làm ba mươi sáu phương, phương lớn có từ một vạn người trở lên, phương nhỏ có sáu bảy ngàn người, mỗi phương đều bầu ra thủ lĩnh, do Trương Giác thống nhất chỉ huy.

Họ bí mật ước hẹn với nhau vào ngày mồng 5 tháng 3 năm Giáp tý (184 trước Công nguyên) thì đồng thời phát động khởi nghĩa ở kinh thành và trong toàn quốc, nêu khẩu hiệu “Trời xanh đáng chết, trời vàng lập nên; vào năm Giáp tý, thiên hạ đại cát”. “Tròi xanh” là chỉ vương triều Đông Hán. “Trời vàng” là chỉ Thái Bình giáo. Họ còn cử người bí mật viết hai chữ “Giáp tý” trong các chùa miếu ở Lạc Dương và trên cổng lớn của dinh quan các châu quận để làm ám hiệu khởi nghĩa.

Nhưng, còn cách thời gian quy định hơn một tháng, nội bộ quân khởi nghĩa có kẻ phản bộị, cáo giác với triều đình. Triều đình lập tức khám xét ở Lạc Dương, người phụ trách liên lạc ở Lạc Dương là Mã Nguyên Nghĩa không may bị bắt, hy sinh, hơn một ngàn người có liên quan đến Thái Bình giáo bị giết hại.

Vì tình hình đột biến đó, Trương Giác quyết định khởi nghĩa trước một tháng. Trương Giác tự xưng Thiên công tướng quân, gọi Trương Bảo là Địa Công tướng quân. Trương Lương là Nhân Công Tướng quân nông dân khởi nghĩa ở ba mươi sáu phương nhận được lệnh của Trương Giác, đồng thòi nổi dậy. Quân khởi nghĩa đều quấn khăn vàng trên đầu làm dấu hiệu, nên được gọi là quân Khăn Vàng.

Untitled

Quân khởi nghĩa ở các địa phương tiện đánh các quận huyện, đốt dinh quan, mở nhà giam, tha tù phạm, tịch thu tài sản của quan lại, phá kho lương thực, trừng trị quan lại và địa chủ gian ác. Không tới mười ngày, cả nước đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Quân khởi nghĩa từ các địa phương tiến về Lạc Dương. Văn thư cáo cấp từ các nơi tới tấp bay về kinh đô.

Hán Linh Đế cuống quýt triệu tập đại thần bàn biện pháp trấn áp cuộc khởi nghĩa. Sau đó phái Hà Tiến làm đại tướng quân, cùng với các tướng Hoàng Phủ Tung, Chu Tuấn. Lư Thực đem mấy cánh quân đi trấn áp quân khởi nghĩa, Nhưng nghĩa quân các nơi như nước trào qua đề vỡ, quân triều đình không chống đỡ nổi. Đại tướng quân Hà Tiến phải xin Hán Linh Đê gửi chiếu thư cho các châu quận, để họ tự triệu tập binh mã đối phó với quân khăn vàng. Lợi dụng cơ hội đó, các tôn thất quí tộc, quan chức các châu quận và địa chủ cường hào nhiều địa phương mượn danh nghĩa đánh quân khăn vàng, tranh nhau giành giật địa bàn, mở rộng thế lực, khiến cho toàn quốc chia năm xẻ bảy.

Đứng trước cuộc đàn áp đẫm máu của triều đình Đông Hán và địa chủ cường hào các địa phương, quân khăn vàng đã giữ vững cuộc chiến đấu ngoan cường anh dũng trong chín tháng. Trong giờ phút then chốt của cuộc chiến đấu lãnh tụ Trương Giác không may bị bệnh mất, Trương Bảo, Trương Lương lãnh đạo tướng sĩ nghĩa quân tiếp tục chiến đấu anh dũng và đều lần lượt hy sinh.

Quân chủ lực của nghĩa quân tuy đã thất bại, nhưng những cánh quân khăn vàng còn tiếp tục chiến đấu trong hai mươi năm nữa. Nền thống trị thối nát của Đông Hán, qua đòn đánh trí mạng của cuộc khởi nghĩa quy mô lớn này, chỉ còn tồn tại thoi thóp.

Leave a Reply

Hãy là người đầu tiên bình luận!

avatar
  Subscribe  
Notify of