Đại thánh Từ Đạo Hạnh

Du ngoạn khắp nơi

Thế là thù xưa đã trả xong, mối tục lụy trong lòng Đạo Hạnh cũng lắng lại. Từ đó, Đạo Hạnh thường đi du ngoạn các nơi để tìm lại dấu Phật, nhất là ở các miền núi cao rừng thẳm, và Ngài thỉnh thoảng cũng gặp gỡ, đàm đạo với các bậc cao tăng nổi tiếng đương thời.

Một lần, tới vùng Thái Bình, nghe nói ở chùa Bình Hóa có Kiều Trí Huyền là vị cao tăng, nên Ngài tìm đến ra mắt. trong khi đàm đạo về lẽ “chân tâm”, Ngài đọc một bài kệ như sau:

“Cửu hỗn phong trần vị thức câm (kim)

Bất tri hà xứ thị chân tâm

Nguyện thừa chỉ giáo khai phương tiện

Tiện kiến bồ đề đoạn khổ tầm.”

Dịch ý:

“Lâu nay bị gió bụi làm vẩn nên không thấy được vàng

(Cho nên) không biết nơi nào mới đích thực là chân tâm

Nguyện được nghe lời chỉ giáo mở lòng

(Để) thấy được bồ đề, không phải khổ công đi tìm tòi.”

Kiều Trí Huyền nghe xong, đọc lại bài kệ đáp lại:

“Ngũ âm bí quyết diễn chân câm (kim)

Cá trung mãn nguyệt lộ thiền tâm

Hà sa giác thị bồ đề đạo

Nghĩ hướng bồ đề cách vạn tầm.”

Dịch ý:

“Bí quyết năm âm biểu hiện rõ ràng thực

Trong đó, đầy tháng sẽ lộ rõ lòng thiền

Cát ven sông nhìn thấy đó thực là Bồ đề (vậy)

(Còn) hướng tới Bồ đề mà đi tìm thì càng thêm xa cách.”

Đạo Hạnh nghe thấy thế, trong lòng cảm thấy hoang mang quá, bèn cáo biệt, rồi tìm đến chùa Pháp Vân ở núi Pháp Linh, yết kiến thiền sư Phạm Hội. Đạo Hạnh hỏi thiền sư: “Như thế nào là chân tâm?”. Thiền sư trả lời: “A nan cá chính là chân tâm”.

Đạo Hạnh bỗng nhiên thấy tỉnh ngộ liền. Lời thiền sư thật giản dị: “Cái gì mà chẳng là chân tâm”, vậy mà lại đúng với suy nghĩ và tâm niệm của Đạo Hạnh bấy lâu nay. Ngài bèn hỏi tiếp: “Thế nào là phép hành trụ?”. Thiền sư lại trả lời: “Đói thì ăn, khát thì uống”. Đạo Hạnh càng tỉnh ngộ, bèn bái biệt thiền sư mà ra về, tiếp tục cuộc đời tu luyện như trước.

Từ đó, phép lực của Ngài càng ngày càng mạnh, duyên thiền của Ngài càng ngày càng kết, đến nỗi các giống rắn núi, các loài thú đồng đều đến quấn quýt xung quanh, chờ Ngài sai bảo. Ngài lại biết cả các phương thuốc chữa bệnh cho dân sở tại đến cầu xin, hoặc “hô phong hóa vũ” để cứu những cánh đồng hoa mùa đang bị khô héo vì gặp hạn hán, v.v …

Tiếng tăm của Ngài vì thế mà truyền mãi ra xa, từ trong triều ngoài nội đến khắp mọi miền đất nước, ở đâu cũng thấy nhắc đến cả.

Khi ấy vua Lý Nhân Tông đang trị vì, Ngài không có con trai, đi cầu tự mãi cũng không được. Em ruột của Nhân Tông là Sùng Hiền hầu (đều là con Lý Thánh Tông và Ỷ Lan Thái hậu) lúc ấy cũng chưa có con trai, thấy vậy, bèn mời Từ Đạo Hạnh đến nhà để cầu tự cho mình, ngõ hầu sau này con mình sẽ được làm Thái tử. Từ Đạo Hạnh nhận lời, nhưng là trong tình thế bất đắc dĩ.

Nguyên do là năm Hội tường Đại khánh thứ ba (1112), ở phủ Thanh Hóa có người đưa tin về triều nói rằng: “Ở bãi bể có đứa trẻ kỳ lạ, tuổi mới lên ba, tự xưng là Hoàng tử, lại lấy hiệu là Giác Hoàng, phàm vua làm điều gì, tuy ở nơi rất xa mà đứa trẻ ấy cũng đều biết cả”. Nhà vua cho quan trung sứ đến tận nơi xem, thấy đúng như tin đồn, bèn đưa đứa trẻ về Kinh đô, cho ở trong chùa Báo Thiên. Nhà vua đến chùa thấy quả nó cũng thông minh, linh lợi thực, đã muốn nhận làm con nuôi, nhưng quần thần thảy đều can là không nên. Họ nói: “Nếu đứa trẻ thật là linh dị ắt sẽ phải thác sinh vào nơi cung cấm thì sau này thì mới có thể lập được. Còn bây giờ làm như thế e chỉ rối thêm phép nước”. Lý Nhân Tông nghe lời, rồi cho mở đại hội bảy ngày bảy đêm, để cho các thiên thần, thiên tướng ở đâu thì về đầu thai nơi cung cấm.

Tuy đang tu hành ở chùa Thiên Phúc cách kha xa Kinh đô, nhưng Từ Đạo Hạnh cũng biết được tin nay, Ngài lại còn biết thêm được điều mà nhiều người không biết, ấy là đứa trẻ ở bãi Thanh Hóa kia chính là nhà sư Đại Điên thác sinh mà thành. Nghĩ rằng Đại Điên hậu sinh mà được vào trong cung vua, rồi sau đó được làm Thái tử và lên làm vua, thì sẽ gây tai họa cho mọi người, trong đó có cả bản thân và gia đình Ngài, vì Đại Điên chính là kẻ thù cũ của Ngài. Vì vậy, Ngài bèn ra tay diệt trừ Đại Điên hậu sinh (tức Giác Hoàng) trước. Ngài làm mấy tấm bùa, bảo chị gái giả làm người đi xem hội rồi nhân đó mà yểm (dán) vào chỗ Giác Hoàng đang ở. Quả nhiên, ba ngày sau Giác Hoàng tự nhiên phát bệnh, lúc sắp mất nói với mọi người rằng “Khắp các ngả đường đều có lưới sắt bủa vây, ta muốn thác sinh vào làm con của vua mà không có cách nào cả, vậy ta phải làm ma xuống chầu Diêm Vương thôi”. Nói rồi nhắm mắt, ngừng thở.

Khi tin Giác Hoàng chết báo về cung vua, Lý Nhân tông xiết bao tức giận. Ngài lập tức cho quan trung sứ phái lính đi bắt Từ Đạo Hạnh về nhà giam trong hoàng cung, bởi vì Ngài, theo lời đồn đại tin rằng Giác Hoàng là hậu sinh của Đại Điên, mà trước kia Đại Điên đã có thù với Từ Đạo Hạnh thật. Hơn nữa, chỉ có pháp thuật của Từ Đạo Hạnh mới có thể diệt trừ được Giác Hoàng như thế mà thôi.

Nhưng khi Đạo Hạnh đang bị giam thì Sùng Hiền hầu đi ngang qua. Nghĩ rằng Đạo Hạnh đã trừ được Giác Hoàng thì ắt cũng có thể có cách để cầu tự cho mình sinh con trai, nên Sùng Hiền hầu xin Lý Nhân Tông tha cho Từ Đạo Hạnh, rồi mời Ngài về nhà ở một vài ngày.

Cảm cái ơn cứu mạng của Sùng Hiền hầu, vì vậy, sau khi nghe Sùng Hiền hầu giải bày ước vọng, Từ Đạo Hạnh đã nhận lời, và dặn thêm trước lúc ra về: “Bao giờ phu nhân sắp đến ngày sinh thì phải cho người đến báo để tôi biết trước”.

Quả nhiên, khi về chùa Thiên Phúc, Từ Đạo Hạnh khẩn với thần núi, ba năm sau phu nhân của Sùng Hiền hầu có mang, rồi sinh ra Lý Dương Hoán, tức Lý Thần Tông sau này.

Lúc người nhà của Sùng Hiền hầu lên chùa báo phu nhân đang trở dạ, thì Từ Đạo Hạnh đi tắm rửa , thay quần áo, rồi trở lại nói với các đệ tử rằng:

– Mối nhân duyên của ta còn chưa hết. Ta phải tạm thác sinh làm đế vương trong thời hạn gần một kỷ (12 năm). Đến lúc ấy, nếu thấy thân thể ta rữa nát thì mới là lúc ta không còn ở cõi đời này nữa. Vì vậy, bây giờ các con chớ nên than khóc làm gì.

Nói xong, Đạo Hạnh lại đọc bài kệ tiếp:

“Thù lai bất báo nhạn lai quy

Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi

Vị cố môn nhân lưu luyến chước

Cổ sư kỷ độ tác kim sư.”

Dịch ý:

“Thu tới không báo cho chim nhạn biết trước

Cười nhạt mà nhìn nhân gian đau xót

Khẽ bảo các đệ tử (môn nhân) chớ nên luyến tiếc

Thầy xưa độ mới một kỷ lại hóa thành thầy này.”

Dứt lời đọc, Từ Đạo Hạnh đang ngồi rồi bỗng nhiên mà hóa.

Sách Việt Điện U Linh chép rằng, Ngài “lên động tiên, đập đầu vào vách đá, nện chân lên bàn đá rồi hóa. Nay vết đầu và vết chân trên đá vẫn còn in”, xét ra cũng có phần nói quá về cái chết của Ngài.

Lúc ấy các đệ tử đang có mặt đông đủ. Mọi người vừa vô cùng thương tiếc, nhưng cũng vừa muôn phần cảm kích, bèn đặt thân xác của thầy vào khám thờ. Lạ thay, mấy tháng sau, rồi hàng mấy trăm năm sau, nhìn vào vẫn thấy nét mặt của thầy còn tươi như lúc còn sống và xung quanh lại có thêm mùi hương thơm nức. Ai ai cũng đều cho rằng thầy chính là tiên, là phật đã thác sinh xuống cõi trần này.