Bàn Cổ: Thần thoại về khai thiên lập địa

Trung Quốc có một lịch sử rất lâu dài. Theo truyền thuyết, thì từ thời Hoàng Đế tới nay, đã ngót 5000 năm. Trong gần 5000 năm lịch sử Trung Quốc có rất nhiều câu chuyện có ý nghĩa, trong đó, nhiều câu chuyện đã được ghi chép trong sử sách. Còn về thời viễn cổ từ 5000 ngàn năm về trước thì chưa có văn tự ghi chép, nhưng vẫn lưu truyền lại một số thần thoại và truyền thuyết.

Thần thoại Bàn Cổ tạo nên trời đất

Thí dụ để lý giải tổ tiên của người Trung Hoa là từ đâu tới thì từ xa xưa, đã lưu truyền câu chuyện thần thoại về Bàn Cổ tạo nên trời đất. Theo thần thoại này, trước khi có Trời đất, vũ trụ chỉ là một khối khí hỗn độn, trong đó không có ánh sáng và âm thanh. Lúc Bàn Cổ xuất hiện, dùng một chiếc rìu bổ khối khí ra. Khí nặng bay lên, thành ra trời, khí nhẹ chìm xuống, thành đất.

Sau mỗi ngày trời cao thêm một trượng, đất dày thêm một trượng, bản thân Bàn Cổ mỗi ngày cũng cao thêm một trượng. Cứ như thế suốt một vạn tám ngàn năm trời cao mãi, đất dày mãi và Bàn Cổ cũng trở thành một người khổng lồ đội trời đạp đất. Sau này, Bàn Cổ chết đi, các bộ phận trong thân thể ông liền biến thành mặt trời, mặt trăng, sao, núi sông và cây cỏ.

Đó là thần thoại về chuyện Bàn Cổ khai thiên lập địa.

Nhưng thần thoại là thần thoại. Ngày nay không ai tin rằng đó là sự thực. Song người ta vẫn yêu thích câu chuyện đó, mỗi khi nói tới lịch sử, là lại nói “từ ngày Bàn Cổ khai thiên lập địa đến nay”. Đó là vì câu chuyện đã nói lên khí phách chinh phục tự nhiên và sức sáng tạo phong phú của nhân loại.

Bàn cố: Thần thoại Khai thiên lập địa

Vậy thì, lịch sử nhân loại đúng ra là từ đâu?

Sau này, khoa học phát triển người ta đã khai quật những hóa thạch trong lòng đất, chứng minh rằng tổ tiên của loài người là một loại người vượn nguyên thủy.

Ở Trung Quốc, đã khai quật được hóa thạch của người vượn cách đây hơn một triệu năm, như người vượn Nguyên Mưu ở Vân Nam cách đây một triệu bảy mươi vạn năm, người vượn Lam Điền ở Thiểm Tây có khoảng tám mươi vạn năm lịch sử. Còn người vượn Bắc Kinh nổi tiếng thì cũng cách đây bốn, năm mươi vạn năm.

Người vượn Bắc Kinh sống tại vùng Chu Khẩu Điếm. Lúc đó, khí hậu miền Bắc ấm áp và ẩm thấp hơn bây giờ, trên và dưới núi đều có rừng cây to, cỏ mọc rậm rạp, nhiều dã thú như hổ, báo, sói, gấu sinh sống; ngoài ra có cả voi, tê giác và hươu nai.

Sức lực của người vượn không bằng các loại mãnh thú, nhưng họ khác mọi loài vật khác là biết chế tạo và sử dụng công cụ. Những công cụ thời đó còn rất giản đơn, làm bằng gỗ và đá, qua sự đẽo gọt thô sơ của người vượn.

Người vượn dùng những công cụ để hái quả, đào rễ và củ, đồng thời làm vũ khí để chống thú dữ.

Nhưng vì công cụ quá giản đơn, lại chỉ dựa vào sức cá nhân nên thức ăn kiếm được không nhiều. Họ đành phải sống thành bầy đàn để cùng lao động và cùng chống lại thú dữ, nên được gọi là bầy đàn nguyên thủy.

Qua mấy chục vạn năm đấu tranh gian khổ. người vượn dần tiến hóa. Trong động Sơn Đỉnh ở Long Cốt Sơn thuộc vùng Chu Khẩu Điếm, người ta phát hiện ra di tích người nguyên thủy có hình dạng rất giống người hiện đại. Loại người đó được gọi là ‘’người động Sơn Đỉnh”.

Công cụ lao động của người động Sơn Đỉnh đã tiến bộ rất nhiều. Họ không những làm ra được rìu đá, búa đá, mà còn dùng xương thú mài thành kim khâu. Đừng nên coi thường những chiếc kim này. Nhờ chúng, người ta đã có thể may da thú thành quần áo, chứ không còn trần truồng như người vượn Bắc Kinh nữa.

Người động Sơn Đình cũng vẫn sống thành bầy đàn, nhưng bầy đàn của họ đã được chia theo huyết thống. Mọi thành viên trong tập đoàn đều có chung tổ tiên, tức là cùng thuộc một thị tộc. Như vậy. xã hội loài người đã ở vào thời kỳ công xã thị tộc.

Bên trên là lịch sử Trung Quốc thời kỳ khai thiên lập địa.

Leave a Reply

Hãy là người đầu tiên bình luận!

avatar
  Subscribe  
Notify of