Các hình thái ý thức của xã hội nguyên thủy

Sự xuất hiện Người tinh khôn, sự phát triển của sản xuất mà nhờ đó cải thiện một cách đáng kể đời sống vật chất của con người, sự hình thành và phát triển của công xã thị tộc… đã có tác động to lớn đến quá trình phát triển của các hình thái ý thức của người nguyên thủy.

Ngôn ngữ

Tư duy và ngôn ngữ sinh ra và phát triển gắn liền với việc lao động tập thể. Cùng với sự tích lũy những quan sát và kinh nghiệm trong sản xuất, ngôn ngữ nguyên thủy cũng được phát triển. Các tài liệu dân tộc học cho biết, ở một số bộ lạc lạc hậu, ví dụ như thổ dân châu Úc chẳng hạn, kho từ vựng của họ đã có tới gần 10 ngàn từ, trong đó có khá nhiều các khái niệm trừu tượng. Tuy nhiên, một trong những đặc điểm của ngôn ngữ nguyên thủy là tính chất cụ thể của nó. Người ta dùng nhiều tên gọi khác nhau để chỉ những cây, những quả, những con thú, con chim cụ thể khác nhau, nhưng những từ chỉ chung loài cây, loài quả, loài chim… thì lại rất thiếu. Một đặc điểm nữa của ngôn ngữ nguyên thủy là mỗi câu có rất ít từ. Cùng với sự phát triển chung của ngôn ngữ, những mặt hạn chế này của ngôn ngữ nguyên thủy cũng dần dần được khắc phục.

Tôn giáo

Chúng ta đã biết, ở thời kì đầu tiên của lịch sử loài người chưa có tôn giáo. Khoa học đã chứng minh rằng ở thời kì này người nguyên thủy, chưa có tôn giáo. Đến thời trung kì đồ đá cũ mới bắt đầu xuất hiện nghi lễ mai táng người chết của người Nêanđectan, và mầm mống của tôn giáo cũng mới xuất hiện. Tôn giáo chỉ xuất hiện khi con người bắt đầu biết quan sát thế giới xung quanh.

Khi tìm hiểu bản thân họ và thế giới xung quanh, họ đã không tách mình ra khỏi giới tự nhiên mà lại hòa mình với giới tự nhiên làm một: không giải thích các hiện tượng của tự nhiên, con người đã đem cái sức sống của bản thân họ khoác cho giới tự nhiên vô tri, vô giác.

Tập hợp khái niệm nguyên thủy ấy, người ta gọi là thuyết vạn vật có linh hồn. Từ đó nảy sinh ra hàng loạt các hình thái đặc biệt của tôn giáo nguyên thủy như sự sùng bái tự nhiên, ma thuật, chủ nghĩa To-tem. Trong quá trình phát triển của xã hội, các hình thức tôn giáo nguyên thủy trên đây tất nhiên đã có nhiều thay đổi. Song những tàn dư của nó vẫn tiếp tục tồn tại và vẫn là nhân tố quan trọng nhất của tôn giáo.

Nghệ thuật

Cũng như các hình thái ý thức khác, nguồn gốc chung của nghệ thuật nguyên thủy là thực tiễn lao động của con người. Hội họa, điêu khắc, âm nhạc ca hát, nhảy múa, trang sức v.v… đều gắn chặt với sinh hoạt tập thể của mọi thành viên trong thị tộc.

Nghệ thuật tạo hình

Với nghệ thuật tạo hình, ở giai đoạn đầu của thời hậu kì đồ đá cũ, các nét vẽ chỉ thể hiện động vật đứng yên ở trạng thái tĩnh. Nhưng từ giữa thời hậu kì đồ đá cũ, trong nghệ thuật đã biểu hiện rõ xu hướng thể hiện sự vận động của thú vật. Đến thời đại đồ đá mới, nghệ thuật tạo hình lại phát triển theo con đường nghệ thuật trang hoàng và các kiểu trang hoàng cũng rất khác nhau. Sự trang hoàng đó đẻ ra nhiều kiểu hoa văn, đề tài khác nhau, màu sắc cũng không giống nhau. Từ những kiểu đơn giản nhất đến những kiểu rất phức tạp, biểu hiện tính nghệ thuật cao độ.

Nghệ thuật điêu khắc

Nghệ thuật điêu khắc – bao gồm tạc tròn và chạm nổi – cũng đã được truyền bá rộng rãi ở nhiều bộ tộc và bộ lạc. Người nguyên thủy đã biết chạm khắc trên gỗ, xương, ngà voi những bức chạm nổi với những chủ đề rất phong phú về động vật và về những cuộc đấu tranh với động vật.

Họ cũng biết tạc tượng bằng ngà voi và sừng, nặn tượng bằng đất sét rồi đem phơi nắng hoặc đem nung. Chủ đề của tượng cũng rất phong phú – từ những động vật thân thuộc hàng ngày như gà, bò, ngựa, hươu v.v… đến con người, đặc biệt là tượng phụ nữ – tượng trưng cho sự bảo tồn và phát triển của thị tộc và của giống nòi.

Lịch sử thế giới cổ đại - NXB Giáo dục,

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of