Tiên hoàng đế Đinh Bộ Lĩnh – Hoàng đế đầu tiên của Việt Nam

Thời gian: Chưa rõ

Tóm tắt sử Việt – 12 khúc tráng ca – Khúc ca thứ ba, tựa đề Tiếng ca hoàng đế. Tiên hoàng đế Đinh Bộ Lĩnh – Hoàng đế đầu tiên (của Việt Nam).

Từ trước tới nay, mỗi khi nhắc đến những anh hùng giữ nước, vô tình chứng ta thường hay xếp Đinh Bộ Lĩnh bên cạnh những Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Quang Trung. Thực tế thì Tiên Hoàng đế Đinh Bộ Lĩnh là một hoàng đế dựng nước, ông dẹp loạn cát cứ và ly loạn lòng người để thống nhất dân tộc. Trên tất cả những chiến công dẹp loạn, ông là vị hoàng đế mở nước.

Năm 938, Ngô Quyền chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc bằng chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Tuy nhiên Ngô Vương chỉ truyền được hai đời thì mất. Đất nước bước vào thời kỳ ly loạn, sử gọi là “Loạn 12 sứ quân”.

Người Việt Nam vì ảnh hưởng của phim ảnh Trung Hoa nên hẳn cũng ít nhiều biết tới tác phẩm Đông Chu liệt quốc thời Chiến Quốc kể về cuộc tranh hùng của bảy nước Tần, Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy và kết thúc bằng thắng lợi của Tần Thủy Hoàng, hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc. Một tác phẩm đồ sộ, những mưu kế trập trùng và những trận đánh hấp dẫn. Có thể nói người Trung Quốc rất tự hào về tác phẩm này. Nhưng thực tế thì người Việt cũng có trong tay một trang sử bi tráng như thế, cũng có một người anh hùng khai thiên lập quốc dẹp loạn cát cứ như thế, cũng dùng pháp luật và sự nghiêm khắc đẻ bảo vệ đất nước sau khi độc lập như thế. Đây là Tiên Hoàng đế Đinh Bộ Lĩnh – hoàng đế đầu tiên của nước Việt.

Trị nước

Năm 968, sau khi thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh lấy tước hiệu là Đinh Tiên Hoàng đế. Đại Việt sử ký toàn thư chép sự kiện: “Bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế” và “Vua mở nước, lập đô, đổi xưng Hoàng đế”. Ông đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. 3 năm sau, ông lấy niên hiệu là Thái Bình.

Chúng ta hãy để ý ba việc làm ấy của Đinh Bộ Lĩnh.

Thứ nhấttước hiệu hoàng đế. Trong khúc ca về dòng họ Khúc, hẳn mọi người không quên họ Khúc chỉ xưng làm Tiết độ sứ, tới Ngô Quyền thì xưng vương, sử cũ gọi là Ngô Vương. Nhưng tới vua Đinh thì ông đã xưng làm hoàng đế, Đại Thắng Minh Hoàng đế chính là tôn hiệu ngày mở nước của vị anh hùng Đinh Bộ Lĩnh. Chính từ đây, người đứng đầu nước Nam thực sự nhận về mình hai chữ “thiên tử” (con trời) như một lời khẳng định về độc lập và tự chủ của cả quốc gia. Từ sau “Tiên Hoàng đế Đinh Bộ Lĩnh”, các đời Lê, Lý, Trần, Nguyễn không xưng vương hay Tiết độ sứ nữa mà đều xưng hoàng đế như một dòng chính thống độc lập hẳn với phương Bắc, đã mở ra thời đại quân chủ phong kiến trong lịch sử Việt Nam, đẩy lùi hơn 1000 năm Bắc thuộc về phía sau dĩ vãng lịch sử.

Điều thứ hai là tên nước Đại Cồ Việt. Thời Ngô, các vua xưng vương nhưng chưa có quốc hiệu, vẫn gọi theo tên thời thuộc Đường là Tĩnh Hải quân. Nhưng bây giờ, Đinh Tiên Hoàng đế đã đặt cho Việt Nam một cái tên là Đại Cồ Việt, ngài muốn khẳng định với phương Bắc đây là đất nước của người Việt chứ không phải của người Hán. Đây là đất Việt, không phải đất Tống.

Ý nghĩa quốc hiệu Đại Cồ Việt: “Đại” theo nghĩa chữ Hán là lớn, “Cồ” là âm Việt cổ của từ “Cự” hay “Cừ” cũng là lớn (mạnh). Đinh Tiên Hoàng đế muốn ghép hai chữ để khẳng định nước Việt là nước lớn. Một cái tên gửi gắm rất nhiều hoài bão với dân tộc.

Điều cuối cùng cần chú ý là niên hiệu Thái Bình được đặt vào năm 970. Trước Đinh Tiên Hoàng đế, các vị vua Việt Nam đều lấy niên hiệu theo hoàng đế Trung Quốc. Việc tự đặt cho mình một niên hiệu riêng đã khẳng định bây giờ nước Nam là một nhà nước phong kiến tập quyền riêng với quân đội riêng, không còn phụ thuộc phương Bắc. Đi cùng niên hiệu Thái Bình chính là đồng tiên “Thái Bình hưng bảo“, được coi là đồng tiền xưa nhất Việt Nam, được nhà Đinh đúc ra vào năm 970. Đồng tiên tuy nhỏ nhưng ý nghĩa thì lớn, góp phần khẳng định nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam không chỉ ở lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hóa mà còn ở lĩnh vực kinh tế.

Ba việc làm lớn, mở ra lịch sử ngàn năm.

Nhận xét về Đinh Tiên Hoàng đế; sử gia Lê Văn Hưu trong Đại Việt sử ký viết: “Có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh bậc thánh triết.” Còn sử gia Lê Tung soạn Việt giám thông khảo tống luận thời vua Lê Tương Dực thì nhận định: “Vua chính thống của nước Việt ta, thực bắt đầu từ đây.

Một điều cần lưu ý: Nhà Đinh được dựng lên bằng máu và ly loạn nên Đinh Tiên Hoàng đế lập trật tự đất nước bằng một bàn tay sắt. Luật pháp dưới thời vua Đinh cực kỳ nghiêm khắc. Các trọng phạm sẽ bị ném vào vạc dầu sôi đặt trước cửa điện, hoặc làm thức ăn cho thú dữ ở ngự uyển. Những hình phạt tàn khóc đó đã gây một ấn tượng sâu đậm trong lòng những người muốn chống đối, qua đó bảo vệ được sự bình yên của một vương triều mới thành lập. Đi cùng với các hình phạt là việc duy trì quân đội thường trực, ông chia quân đội thành mười đạo, dưới sự thống lĩnh của Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn. Nhờ các biện pháp này, tình hình trong nước được ổn định.

Cầm quân

Một sự hiểu lầm như ở đầu câu chuyện đã nói, cái tên Đinh Bộ Lĩnh luôn được đặt cạnh Trần Hưng Đạo hay Quang Trung ấy là vì tên tuổi của ông luôn gắn với giai thoại “Cờ lau ra trận” và “Dẹp loạn cát cứ”. Chính hai võ lược này khiến ông được tôn vinh trên mặt trận cầm quân. Đinh Tiên Hoàng đế không chỉ là một vị vua vĩ đại của dân tộc mà còn là một vị tướng trên lưng ngựa đánh Đông dẹp Bắc, một người vừa có tầm nhìn của hoàng đế vừa có cái xuất chúng của tướng cầm quân.

Nếu các bạn, có dịp tới thăm lăng mộ của Đinh Tiên Hoàng đế ở Hoa Lư – Ninh Bình, sẽ cảm nhận tinh thần thượng võ của vua Đinh qua cách ông chọn nơi an nghỉ cuối cùng. Lăng của Tiên Hoàng nằm trên núi Mã Yên. Gọi là Mã Yên bởi vì đó là một thung lũng đá vôi hơi trũng, rộng và bằng phẳng, hai bên nhô cao và ở giữa hõm xuống hình như yên ngựa. Nơi này bốn mùa cây lá xanh rờn che phủ. Lăng chính đặt ở trên núi, ngay vị trí của “yên ngựa”. Tất cả để nói lên rằng, tuy đã ở nơi thiên giới nhưng hoàng đế lúc nào cũng ở trên yên ngựa, nhìn về vận mệnh dân tộc như ngày người còn sống.

Nhà văn Đông Châu khi đến cố đô Hoa Lư, trèo lên 256 bậc đá núi Mã Yên để viếng lăng vua Đinh, ông đã cảm khái mà làm nên bài thơ:

“Yên ngựa chon von ngất đinh đèo
Sơn lăng dấu cũ đá cheo leo
Đìu hiu ngọn gió cờ lau phất
Văng vẳng sườn non tiếng mục reo
Nền miếu Tràng An còn vững đá
Tấm bia Tiên đế chửa mờ rêu
Non sông Cồ Việt nào đâu đó?
Bảng lảng thành Hoa bóng ác chiều.”

Hãy luôn tin rằng, tiền nhân luôn ở bên. Nhưng bản thân chúng ta phải là những người có lòng.

Đinh Tiên Hoàng được gọi là “Vạn Thắng Vương“, vị vua trăm trận trăm thắng, vị vua đích thân cầm quân ra trận, vị vua sắp đặt mưu kế và tiêu diệt kẻ địch. Tầm của ông đã hiển hiện từ khi còn nhỏ, khi những đứa trẻ cùng thời khoanh tay làm kiệu cho ông, lấy tre làm giáo, lấy cỏ lau làm cờ, theo hiệu lệnh của ông tấn công lũ trẻ làng bên cạnh. Trong những đứa trẻ ấy có Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ và Trịnh Tú. Họ sẽ cùng nhau tạo nên một sự nghiệp oanh liệt sau này.

Hãy bắt đầu về hành trình đánh dẹp cát cứ của Đinh Bộ Lĩnh. Xuất thân Đinh Bộ Lĩnh là con trai của Đinh Công Trứ – Thứ sử Châu Hoan, nha tướng của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ. Khi cha mất sớm, ông về Hoa Lư, tập hợp quanh mình những bộ thuộc và những anh em trung thành nhất.

Năm 944, Tiền Ngô Vương Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha – em của Dương Thái hậu – cướp ngôi, tự xưng Dương Bình Vương. Con trai của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập chạy về Nam Sách (Hải Dương) tạo nên cuộc tranh chấp ngôi báu giữa nhà Ngô và ngoại tộc. Kết quả: Dương Tam Kha bại trận, Ngô Xương Ngập cùng Ngô Xương Văn nắm lại quyền lực. Nhưng khoảng thời gian đấu đá nội bộ ấy đã khiến dòng tộc nhà Ngô mất sự kiểm soát ở các phương, dẫn đến trong khoảng thời gian từ năm 944 đến năm 966 dần hình thành những sứ quân cát cứ. Đến năm 966, khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn mất ở Thái Bình, loạn 12 sứ quân chính thức nổi dậy. Đinh Bộ Lĩnh đã xuất hiện trong hoàn cảnh đó.

Năm 951, Đinh Bộ Lĩnh có một khoảng thời gian can qua với hai vua Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn. Hai vua thì không đánh được ông, mà ông vì lực mỏng, cũng không thể tấn công được Cổ Loa (kinh đô dòng họ Ngô). Sau đó, ông cùng các bộ thuộc đến đầu quân dưới sứ quân đang giữ vùng đồng bằng Bố Hải Khẩu – Kỳ Bố (Thái Bình): Trần Minh Công Trần Lãm. Trần Lãm rất yêu quý Đinh Bộ Lĩnh và nhận ông làm con nuôi. Đến khi Trần Lãm mất, ông nắm quyền ở Bố Hải Khẩu nhưng đồng loạt đưa toàn bộ quân lực về lại vùng đất tuổi thơ Hoa Lư – Ninh Bình. Đi cùng với ông là những người anh em sát cánh thuở ở Hoa Lư và cả những người lính dưới trướng của Trần Lãm cũ. Bằng việc này, Đinh Bộ Lĩnh đã nắm trong tay “thiên thời – địa lợi – nhân hòa” để có thể thống nhất thiên hạ.

Thiên thời có: Nhà Ngô không nắm được triều chính, 12 sứ quân thì ai cũng tham vọng nhưng không đoàn kết. Bên Trung Quốc lúc này, Triệu Khuông Dẫn vừa mới lập nên nhà Tống. Bên ngoài thì bận rộn diệt trừ tàn dư cát cứ Ngũ đại Thập quốc (lại bị uy hiếp bởi nước Liêu cường thịnh), bên trong thì phải lo toan ổn định triều chính. Bởi vậy không thể vươn tay xuống tận đất Việt.

Nhân hòa có: Lực lượng đồng đều, số lượng tăng cao, lại nhiều kinh nghiệm chinh chiến. Ở phía lãnh đạo, Đinh Bộ Lĩnh cùng với con trai Đinh Liễn, các hạ thần Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp, Phạm Cự Lạng được các sử gia Trung Quốc gọi là “Giao Châu thất hùng”. Với một lực lượng tình nhuệ như thế, không khó để Đinh Bộ Lĩnh áp đảo các sứ quân còn lại. Đặc biệt trong bảy người ấy có Lê Hoàn, người sau này sẽ là vị vua mở ra triều Tiền Lê và đánh tan quân xâm lược nhà Tống lần thứ nhất. Trên có Đinh Bộ Lĩnh, dưới có Lê Hoàn, đừng nói là 11 sứ quân nhỏ nhoi, chỉ hai người này thôi cũng đủ khiến cho quân Tống phải “thất kinh táng đởm”.

Địa lợi có: Kinh đô Hoa Lư ở một vị trí cực kỳ “hiểm”, sau lưng được dãy núi dài bao bọc như một tòa thành tự nhiên vững chắc, trước mặt là dòng sông Hoàng Long khi đó còn rộng và nhiều nhánh chứ không thu hẹp như bây giờ. Luận về phòng thủ, các vách núi đá vôi và hệ thống sông hồ sẽ làm thành quách tự nhiên bảo vệ Hoa Lư. Nếu tấn công, chỉ cần xuôi thuyền từ bến Ghềnh Tháp đi vào sông Hoàng Long rồi đến Gián Khẩu thì rẽ vào sông Đáy và sông Châu Giang. Chạy thẳng đến Phủ Lý, ngược sông Hồng, rồi vào sông Tô Lịch là coi như đã âm thầm chĩa mũi giáo sau lưng hai tướng quân Đỗ Cảnh Thạc và Nguyễn Siêu ở Đại La rồi. Từ đó, chi cần tiến hành chia nhánh bộ binh, lặng lẽ hành quân trong đêm là có thể đánh được các mặt trận địa của 11 sứ quân còn lại một cách bất ngờ nhất.

Có cả “thiên thời – địa lợi – nhân hòa” trong tay, thật không khó để ông lây được thiên hạ.

Bắt đầu chiến dịch, Đinh Bộ Lĩnh tấn công sứ quân Kiều Công Hãn, tự xưng Kiều Tam Chế, là sứ quân đóng giữ Phong Châu – Bạch Hạc (Việt Trì và Lâm Thao, Phú Thọ). Lý do Đinh Bộ Lĩnh chọn tấn công vùng đất này đầu tiên chính vì vị trí này nằm sát ngay sau lưng của hai sứ quân mạnh nhất là Đỗ Cảnh Thạc và Nguyễn Siêu. Nếu chiếm được Bạch Hạc, sẽ uy hiếp được Đại La, cùng với quân từ Hoa Lư đánh thẳng lên, coi như hai mặt giáp công vây lấy Đỗ Cảnh Thạc vào giữa, không thể cựa quậy được. Một loạt các bước ngoại giao và phản gián với sứ quân ở xa nhất là Kiều Thuận giữ Hồi Hồ – Cẩm Khê (Phú Thọ) được áp dụng, giúp ông dễ dàng rảnh tay đánh bại Kiều Công Hãn.
Nắm được Bạch Hạc, Đinh Bộ Lĩnh tiến đánh sứ quân mạnh nhất Đỗ Cảnh Thạc. Lợi dụng Đỗ Cảnh Thạc đang ở đồn Bảo Đà, ban đêm, Đinh Bộ Lĩnh cho quân đến cướp Trại Quyền. Đỗ Cảnh Thạc vội chạy đến cứu nhưng lại bị Đinh Bộ Lĩnh cho mai phục giữa đường để chặn đánh. Vì đầu đuôi không cứu được nhau, Đỗ Cảnh Thạc mất trại và thua trận bước ngoặt. Không còn giữ được thế “ỷ dốc” ban đầu, đến năm 967, Đỗ Cảnh Thạc bị đánh bại hoàn toàn và chết vì trúng tên ở chân núi Sài Sơn.

Hạ được Đỗ Cảnh Thạc, Đinh Bộ Lĩnh tiến đánh sứ quân mạnh thứ hai là sứ quân Nguyễn Siêu. Lần này ông dùng kế hỏa công, đánh bại được quân Nguyễn Siêu. Hạ được hai sứ quân mạnh nhất, Đinh Bộ Lĩnh lần lượt tấn công các sứ quân khác. Đánh sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp, tức Nguyễn Lệnh Công, ông tập kích quân lương, vừa vây vừa diệt. Đối với các sứ quân nhỏ hơn như sứ quân Lý Khuê giữ Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh), sứ quân Lã Đường giữ Tế Giang (Văn Giang, Hưng Yên), ông mặt giáp mặt, điều binh khiển tướng, chém ngay trong trận. Đi cùng vói thắng lợi trên sa trường là thắng lợi ngoại giao. Đinh Bộ Lĩnh luôn dùng các kế sách chiêu hàng bằng cách vừa dụ dỗ vừa đe dọa, lại lợi dụng mâu thuẫn của các sứ quân để làm lợi cho mình. Đặc biệt, riêng đối với hai sứ quân họ Ngô là Ngô Nhật Khánh đóng ở Đường Lâm và Ngô Xương Xí đóng ở Châu Ái (Thanh Hóa), vốn là hậu duệ của Ngô Vương, Đinh Bộ Lĩnh tiến hành chiêu hàng chứ không đánh nhằm lây lòng thiên hạ.

Kết quả: Trong vòng 3 năm, từ năm 966 đến năm 968, bằng tài năng và bản lĩnh, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất được đất nước. 3 năm của ngài có giá trị liên thành cho vận mệnh dân tộc. Bởi đó là thời điểm nhà Tống vừa duỗi chân tới Quảng Châu và tiêu diệt xong Nam Hán, đang chuẩn bị kéo xuống nước Nam ta. Chính lúc ấy, Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh đã kịp xưng đế, thu mảnh giang sơn đang vỡ nát về một mối, tập trung toàn bộ quốc lực vào tay, củng cố gốc nước khiến quân Tống phải khựng lại.

Có thể nói rằng, Đinh Tiên Hoàng đế không chỉ là vị vua dựng nước mà còn giữ nước qua việc dẹp bỏ ly loạn, tạo nên nước Việt thống nhất, ngăn sức mạnh của phương Bắc và cùng đoàn kết chống lại sự xâm lấn. Ngài đồng thời là nhà chính trị, một vị tướng, một “Vạn Thắng Vương” trăm trận trăm thắng. Một vị hoàng đế đến cả khi tạ thế vẫn muốn thân mình ở trên ngọn núi Mã Yên, như thể ngày còn trên lưng ngựa lo cho vận mệnh của dân tộc.

Sử việt - 12 khúc tráng ca,

Đăng ký
Thông báo
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
Xem tất cả thảo luận