Tào Tháo Khởi Binh

Lịch sử Trung Quốc ghi chép lại Tào Tháo là người huyện Triều đất Bái (nay là huyện Bạc tỉnh An Huy). Cha là Tào Tung, con nuôi của một hoạn quan. Từ nhỏ, Tào Tháo đã thông minh lanh lợi giỏi làm việc. Đương thời có một danh sĩ tên là Hứa Thiệu, có tài xét người. Khi Tào Tháo trưởng thành, đến xin Hứa Thiệu nhận xét, Hứa Thiệu nói: “Ta thấy anh, nếu sống trong thời thái bình, sẽ là một bầy tôi giỏi, nếu trong thời loạn, sẽ là một kẻ gian hùng”.

Năm hai mươi tuổi, Tào Tháo làm Bắc bộ uý ở Lạc Dương (chức quan trông coi việc trị an ở phần phía bắc Lạc Dương). Vừa nhận chức, ông sai thợ làm hai mươi cái gậy ngũ sắc, treo hai bên nha môn. Ông hạ lệnh, nếu ai phạm tội thì bất kể là hào môn đại tộc, cũng đều bị đánh gậy.

Lúc đó, Kiển Thạc (hoạn quan) có một ông chú là một ác bá nổi tiếng, dựa vào quyền thế của Kiển Thạc, đã hoành hành ngang ngược khắp Lạc Dương, không ai dám gây chuyện với hắn. Có lần trong đêm hắn vác dao đi gây sự ầm I, phạm vào lệnh cấm của Tào Tháo. Tào Tháo không đếm xỉa gì đến thế lực của hắn, sai người bắt lại, dùng gậy ngũ sắc đánh cho một trận tơi tả. Tên ác bá đó chịu không nổi, chết tại chỗ. Sự kiện đó làm rung động cả kinh thành Lạc Dương. Mọi người đều ca ngợi Tào Tháo là người không sợ quyền uy, giữ nghiêm pháp luật. Bọn hoạn quan vừa căm tức vừa sợ hãi, liền tìm cách điều Tào Tháo khỏi Lạc Dương làm huyện lệnh ở nơi xa.

Trong thời kỳ khởi nghĩa Khăn Vàng, Hán Linh Đế phong Tào Tháo làm kỵ đô uý, cử đến Dĩnh Xuyên (trị sở nay tại huyện Vũ, Hà Nam) trấn áp quân khởi nghĩa. Ông đã đánh bại cánh quân khởi nghĩa do Ba Tài lãnh đạo. Vương triều Đông Hán thấy Tào Tháo có công, phong làm Tê Nam tướng. Mấy năm sau, lại điều về Lạc Dương.

Đổng Trác nắm quyền ở Lạc Dương, để thu phục lòng người, đã dùng quan cao bổng hậu để mua chuộc các quan. Nghe nói Tào Tháo có chút ít tiếng tăm, liền thăng Tào Tháo làm kiêu kỵ hiệu uý. Nhưng Tào Tháo thấy Đổng Trác làm nhiều việc càn rỡ, không được lòng người, sớm muộn cũng bị đánh đổ nên không chịu làm thủ hạ của Đổng Trác mà mạo hiểm trốn khỏi Lạc Dương về Trần Lưu (nay là huyện Trần Lưu, Hà Nam) tìm cha.

Cha Tào Tháo có một số tài sản ở Trần Lưu, khi Tào Tháo về, được cha đồng ý, liền bỏ tiền ra chiêu binh mãi mã, chuẩn bị đánh Đổng Trác. Ở địa phương, có một người giàu có là Vệ Từ, cúng bỏ tiền của và lương thực ra giúp đỡ Tào Tháo. Dần dần, Tào Tháo tụ tập được hơn năm ngàn người ngựa vừa tiến hành luyện tập, vừa nghe ngóng các nơi.

Untitled

Từ sau khởi nghĩa Khăn Vàng, các châu quận đều có binh mã. Rất nhiều thứ sử, thái thú các châu quận vốn có dã tâm cát cứ, nên nhân lúc Lạc Dương có rối loạn liền mượn cớ thảo phạt Đổng Trác, đua nhau chiêu tập binh mã. Trong số đó, lực lượng mạnh nhất phải kể tới Viên Thiệu.

Sau khi xung đột với Đổng Trác ở Lạc Dương, Viên Thiệu chạy về Ký Châu, làm thái thú Bột Hải. Vì Viền Thiệu thuộc dòng họ quan chức lớn, Ký Châu mục Hàn Phức cũng là bộ hạ cũ của họ nhà Viên, nên Viên Thiệu nhanh chóng tổ chức được một đội quân lớn ở Bột Hải.

Năm 190, Tào Tháo và các đội quân thảo phạt Đổng Trác gồm mười mấy vạn người, tập hợp ờ Toan Tảo (nay ở Tây nam Diên Tân. Hà Nam) gần Trần Lưu, tổ chức thành liên quân và cử Viên Thiệu làm minh chủ.

Tin tức về việc khởi binh ở các địa phương truyền tới Lạc Dương, khiến Đổng Trác lo sỢ. Mặc các đại thần phản đối, Đổng Trác quyết định đưa Hán Hiến Đế và hàng triệu dân Lạc Dương đòi vào Trường An, còn tự mình lưu lại vùng phụ cận Lạc Dương để đối phó với liên quân. Khi Hán Hiến Đế bị buộc rời Trường An. Đổng Trác sai đốt hết cung điện, dinh thự và nhà dân trong khoảng hai trăm dặm xung quanh Lạc Dương. Một kinh thành hoa lệ và một vùng dân cư trù phú đã bị lửa thiêu trụi, trở thành một vùng không còn tiếng gà gáy, chó sủa. Dân chúng bị lùa đi, bị đánh đập, chết đói chết khát, thi thể rải khắp trên đường.

Nhưng liên quân thảo phạt Đổng Trác tập trung ở vùng Toan Tảo vẫn còn trông nhau, ai cũng án binh bất động không dám ra tay trước. Có lầỉi tướng lĩnh chỉ huy các đội quân thuộc liên quân họp bàn trong đại doanh của Viên Thiệu. Tào Tháo nói với mọi người: “Chúng ta khỏi binh là để thảo phạt Đổng Trác. Hiện nay Đổng Trác đã cướp thiên từ đem đi, đốt cháy cung điện và kinh thành, lòng người cả nước đều kinh hoàng căm giận. Đây đúng là thời cơ tốt để trừ nghịch tặc. Tại sao chúng ta cứ do dự. không quyết định hành động? Dù Tào Tháo nói năng khảng khái, cảm động nhưng không ai nhiệt tình hưởng ứng. Ngay cả minh chủ Viên Thiệu còn chưa hành động, thì ai còn tình nguyện ra tay trước?

Tào Tháo thấy mọi người chỉ lo bảo toàn lực lượng của mình không dám đánh Đổng Trác thì tức giận, liền tự mình dẫn năm ngàn người ngựa, tiến binh về Thành Cao (nay là Trấn Dĩ Thuỷ, Huỳnh Dượng. Hà Nam). Đổng Trác nghe tin Tào Tháo tiến binh về Thành Cao, liền bố trí sẵn thế trận ở Biện Thuỷ (nay ở Tây nam Huỳnh Dương, Hà Nam). Quân Tào Tháo vừa tới Biện Thuỷ, thì gặp bộ tướng của Đổng Trác là Từ Vinh đánh chặn. Quân Từ Vinh đông, quân Tào Tháo ít, vừa giao chiến, quân Tào Tháo đã tan vỡ. Trong khi cưỡi ngựa tháo lui, Tào Tháo trúng một mũi tên vào vai, vội thúc ngựa chạy gấp. Một phát tên khác lại trúng vào con ngựa, ngựa giật mình, hất Tào Tháo ngã xuống đất. Quân Từ Vinh từ phía sau đang la hét đuổi tới gần. Trong lúc nguy cấp Tào Hồng tới kịp, nhường ngựa cho Tào Tháo, ông ta mới chạy thoát.

Chạy về tới Toan Tảo, thấy các cánh quân trong liên minh, không những án binh bất động mà còn rượu chè, ca hát say sưa, không nghĩ gì tới việc đánh Đổng Trác.

Tào Tháo giận dữ, chạy tới giữa yến tiệc của Viên Thiệu và các tướng, lớn tiếng trách mắng: “Các ngài lấy danh nghĩa mang quân trừ nghịch tặc, mà cứ chần chừ trông ngóng ở đây khiến dân chúng thất vọng, tôi thật lấy làm hổ thẹn thay cho các ngài”.

Không lâu sau, mấy chục vạn quân liên minh ăn hết lương thực liền rã đám.

Qua trận chiến đấu với Đổng Trác, Tào Tháo thấy rõ công tác với đám người đó thì chẳng bao giờ làm nổi việc lớn, liền tới Dương Châu (nay ở Hoài Thuỷ, An Huy và phía nam Trường Giang thuộc Giang Tô) chiêu binh mãi mã để chuẩn bị lại khởi binh.

 

Leave a Reply

Hãy là người đầu tiên bình luận!

avatar
  Subscribe  
Notify of