Hán Văn Đế: Lưu Hằng

Hán Văn Đế tên thật là Lưu Hằng, con của Hán Cao Tổ, tuổi Hợi. Tính tình ôn nhu, cần kiệm, so với phụ thân thì còn có nhiều đặc tính của nông dân hơn, tính tình giản dị không xa hoa. Sau khi Huệ Đế qua đời, Lã Trĩ liên tiếp lập một số vị tiểu hoàng đế không chính thống. Sau khi Lã Hậu mất, các đại thần như Trần Bình, Chu Bột xử tử người nhà họ Lã, đưa Lưu Hằng lên ngôi. Ông tại vị 23 năm, sau mắc bệnh qua đời, thọ 46 tuổi.

Hán văn Đế: Lưu Hằng. Ảnh minh họa
Hán văn Đế: Lưu Hằng. Ảnh minh họa

Năm sinh: 202 TCN

Năm mất: 157 TCN

Nơi an táng: Bá Lăng (phía đông thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây ngày nay).

Thụy hiệu: Hiếu Văn Hoàng Đế

Hoàng hậu: Đậu Y Phòng

Miếu hiệu: Thái Tông.

Trước: Lưu Doanh

Sau: Lưu Khải

Công – tội: Sau khi lên ngôi hoàng đế, ông tiếp tục thực thi rộng rãi những chính sách dân sinh của Cao Đế và Huệ Đế, dùng triết học Lão Hoàng để cai trị đất nước, dân chúng cả nước được an cư lạc nghiệp, cũng có công lao nhất định trong việc giải quyết các vấn đề về biên giới. Nhưng trong lịch sử, Lưu Hằng chỉ là một ông vua có tư chất trung bình, cả cuộc đời không có công lao hiển hách gì.

Trước khi lên ngôi

Lai lịch

Mẹ của Lưu Hằng vốn là cung phi của Ngụy Vương Báo thời Hán Sở phân tranh, họ Bạc, dung mạo xinh đẹp. Ngụy Vương Báo sủng ái bà ta được vài lần thì bỏ mặc không quan tâm đến nữa.

Quân của Lưu Bang bình định nước Ngụy, giết Ngụy Vương Báo, bắt hết cung nhân về Doanh Dương. Lưu Bang bản tính háo sắc, nhìn thấy Bạc thị liền mê đắm. Năm 202 TCN, Bạc thị sinh một người con trai, được Lưu Bang đặt tên là Lưu Hằng. Lưu Bang không có nhiều con trai nên đối với Lưu Hằng còn có phần yêu quý.

Làm Vương phương bắc

Sau khi lập quốc, Lưu Bang phong cho Lưu Hằng làm Đại vương rồi lệnh cho hai mẹ con họ đi đến phương bắc. Bạc phu nhân là người đàn bà thông minh, nhìn thấu tâm địa độc ác của Lã Trĩ nên vô cùng cẩn trọng, không muốn chọc giận bà ta nên sau khi được phong đất thì âm thầm dẫn theo con trai Lưu Hằng mới được vài tuổi lên đường.

Nhìn thấy kết cục bi thảm của hai mẹ con Thích phu nhân, Bạc thị càng thận trọng hơn, cùng con trai lặng lẽ sống qua ngày. Đất Đại là vùng nghèo đói nên chỉ cần có thể sống qua ngày được thì hai mẹ con họ quyết không thu một đồng thuế nào của dân nhưng vẫn cống nạp đầy đủ cho triều đình.

Có lẽ là do ngay từ nhỏ đã sống cần kiệm nên dù làm hoàng đế, Lưu Hằng vẫn có thể thấu hiểu cuộc sống vất vả của người dân, không hề xa hoa lãng phí.

Khi Lã hậu qua đời

Năm 180 TCN, Lã Hậu qua đời. Lã Sản và Lã Lộc âm mưu cướp đoạt vương quyền. Nhưng âm mưu đó đã bị các lão thần Chu Bột, Trần Binh đập tan, kịp thời khởi binh tiêu diệt họ Lã, ổn định đại cục, giết hết những tiểu hoàng đế được Lã Hậu phong tước. Sau khi thương lượng, hai người họ quyết định lập Lưu Hằng làm hoàng đế. Bởi Lưu Hằng là người hiển minh, lương thiện, là người lớn tuổi nhất trong số các hậu duệ của Cao Tổ hiện tại. Mẫu thân là người nhân nghĩa đoan chính.

Khi nhận được tin Lưu Hằng đến Trường An làm hoàng đế thì hai mẹ con họ không những không vui mừng mà còn choáng váng. Bạc thị không biết nên làm sao, Lưu Hằng cảm thấy đây chẳng phải việc tốt đẹp gì. Sau khi Bạc thị cử em trai phi ngựa thần tốc đến Trường An thăm dò tình hình, chứng thực sự việc thì mới lên đường về Trường An trong tâm trạng lo lắng bất an.

Khi đến Hoàng cung, được triều thần tung hô vạn tuế, Lưu Hằng khiêm tốn đ đến trước mặt tân khách, luôn nói: “Không dám! Không dám!”

Sau khi lên ngôi

Củng cố vương quyền

Sau khi vào Vị Ương cung, Bạc thái hậu hỏi Lưu Hằng: – Con muốn làm một hoàng đế như thế nào?

Lưu Hằng đáp: – Làm một hoàng đế giống như tiên hoàng.

– Con cho rằng tiên hoàng là một hoàng đế hoàn mỹ rồi sao?

Lưu Hằng không dám bình luận về phụ thân, liền nói: – Làm một hoàng đế giống như (Chu) Văn Vương, Vũ Vương.

Bạc thái hậu nói: – Đã làm hoàng đế rồi thì phải ngồi cho vững, đừng để người khác cướp đi vương vị của mình.

Lưu Hằng cho rằng lời của mẫu hậu là đúng nên từ đó, ông coi việc củng cố vương quyền là việc trọng đại cần phải thực hiện ngay.

Lưu Hằng đại xá thiên hạ, ban cho dân chúng nhiều lợi ích để họ thấy rằng ông không giống những vị vua bình thường. Sau đó, ông làm một cuộc thay đổi lớn trong triều đình, trọng dụng những người theo ông đến từ đất Đại.

Sau khi sắp xếp thân tín của mình vào những cương vị quan trọng, ông ban thưởng và thăng chức cho những lão thần, tướng quân có công lao thời Lưu Bang và Lưu Doanh và cả những người có công diệt trừ họ Lã, lập ông lên làm hoàng đế.

Sau khi ổn định triều chính, củng cố vương vịI, Lưu Hằng lệnh cho những chư hầu ở kinh thành trở về đất phong của họ. Điều này rất quan trọng bởi thân thích của họ Lưu chẳng có ai trung thực. Họ ở kinh thành ngày ngày tính kế ly gián, gây chuyện thị phi. Bọn họ không thuần phục hoàng đế mới, rất nhiều người không chịu rời đi. Lưu Hằng liền bãi chức của thừa tướng Chu Bột, lệnh cho ông ta trở về đất phong của mình ở huyện Giáng (nay là phía đông huyện Khúc Ốc tỉnh Sơn Tây). Các chư hầu thấy vậy liền lần lượt rời khỏi Trường An.

Không lâu sau, có người tố cáo Chu Bột âm mưu tạo phản bởi Chu Bột cả ngày ở trong nhà mặc giáp trụ luyện võ, làm ra vẻ như một Đại tướng quân. Chu Hằng đã sớm muốn diệt trừ Chu Bột nhưng ông ta vốn là lão thần ba triều, từng cùng Lưu Bang chém rắn trắng khởi nghĩa, công lao hiển hách, có công lớn trong việc diệt trừ bè đảng họ Lã, lập Lưu Hằng lên ngôi nên không thể động đến ông ta. Sẵn đã có cớ, Lưu Hằng liền lệnh bắt giam Chu Bột.

Cậu của Lưu Hằng là Bạc Chiêu chạy đến khuyên can thì Lưu Hằng nói rằng: “Hắn ta so với Hàn Tín đã là gì? Cao Tổ không phải cũng giết chết Hàn Tín đó sao?”

Bạc Chiêu không khuyên can được Lưu Hằng bèn tìm đến Bạc thái hậu. Bạc thái hậu chất vấn và trách mắng Lưu Hằng một hồi, ông mới hiểu ra và phóng thích Chu Bột, phục hồi đất phong và tước vị.

Từ sự việc này có thể thấy rằng Lưu Hằng rất cảnh giác và nghiêm khắc với những đại thần có quyền thế lớn mạnh.

Ban hành chính sách mới

Nghe nói rằng Bạc thái hậu thường dạy Lưu Hằng cố gắng ít hoặc không can dự vào đời sống của nhân dân, muốn ông thấu hiểu đạo lý “vô vi”.

Trong 23 năm cầm quyền, Lưu Hằng luôn thi hành chính sách khoan thứ sức dân, phát triển sản xuất. Những chiếu lệnh ông ban ra thường bày tỏ sự quan tâm và đồng cảm với dân chúng, thậm chí có những chiếu chỉ rất cảm động.

Lưu Hằng nhanh chóng thiết lập pháp lệnh, quy định người già từ 80 tuổi trở lên mỗi tháng được tặng 5 đấu gạo, 1 cân thịt; Người từ 90 tuổi trở lên thì mỗi tháng tặng thêm 2 xấp vải, 1,5 cân bông. Việc tặng đồ cho người từ 90 tuổi trở lên phải do đích thân huyện thừa, huyện ủy thực hiện. Còn lại là do hương lại thực hiện.

Lưu Doanh dốc sức vì đất nước, thi hành chế độ “thập ngũ thuế nhất’ có tác dụng rất tốt. Lưu Hằng thi hành chế độ “thập tam thuế nhất” (nộp thuế 1/13 thu nhập) và cứ mỗi 12 năm thì miễn thuế cho cả nước.

Những chính sách đó khiến cho dân chúng có cuộc sống ấm no, đất nước ngày càng giàu mạnh nhưng thu nhập của triều đình thì ít ỏi. Lưu Hằng và triều đình sống cuộc sống đạm bạc, tiết kiệm, ông ở trong Vị Ương cung mấy chục năm mà cách bài trí trong cung vẫn không thay đổi. Có người đề nghị ông xây Lộ Đài ở Ly Sơn. Ông tính toán thấy ít nhất cũng tốn 100 cân vàng, nói rằng: “Số vàng đó bằng sản nghiệp của mười hộ bậc trung. Ta ở trong cung điện của tiên đế xây đã cảm thấy xấu hổ, sao còn phải xây thêm Lộ Đài?”

Y phục của Lưu Hằng thường được may từ loại vải thô màu đen. Ngay đến cả Thận phu nhân là người ông sủng ái nhất cũng không được mặc váy dài chạm đất. Màn trướng cũng không được dùng loại sang trọng có gắn hoa.

Lưu Hằng và người thân tiết kiệm là vậy, còn các chư hầu khắp nơi phần lớn đều giàu có. Nên sau này mới xảy ra chuyện ngược đời là triều đình phải vay tiền chư hầu.

Chỉnh sửa lại luật pháp

Hình luật có vai trò quan trọng đối với quốc gia và dân chúng. Lưu Hằng thấu hiểu đạo lý hình luật không được nhẹ và cũng không được nặng, ông từng nhiều lần bàn bạc với quần thần về hình pháp.

Năm 178 TCN, ông lệnh cho Chu Bột xóa bỏ hình phạt bắt con cái phải chịu liên lụy, xét xử người có tội theo pháp luật, không xứng làm cung nô nữa, người nào có tội thì người đó chịu, người vô tội không bị liên can.

Lưu Hằng còn lệnh cho triều thần nghiên cứu, xóa bỏ hình phạt nhục hình, thay thế bằng hình phạt khác.

Ngoại giao

Đối với vấn đề biên giới, Lưu Hằng cũng giải quyết ổn thỏa. Mỗi năm đều phái sứ giả đến đàm phán với Hung Nô và còn gả con gái của thân tộc cho Hung Nô để cầu thân. Trong thời gian ông chấp chính không xảy ra cuộc xung đột lớn nào với Hung Nô.

Lưu Hằng cũng dùng chính sách mềm dẻo, thu phục được Nam Việt Vương hoành hành ngang ngược ở phía nam.

Qua đời

Năm 157 TCN, Lưu Hằng ốm nặng, lúc hấp hối, ông ra chiếu thư nói rằng: phải an táng ở trên núi, không được xây lăng mộ. Khi cử hành tang sự không được hạn chế việc hỷ của nhân dân.

Theo ghi chép, đó tùy táng trong mộ của Lưu Hằng chỉ có đồ bằng tre, gỗ và gốm, không có vàng bạc châu báu. Thời Vương Mãng, khi quân Xích Mi xông vào thành Trường An, lăng mộ của các hoàng đế khác đều bị đào bới, chỉ có lăng mộ của Lưu Hằng còn nguyên vẹn, không bị tổn hại.

Chính Sử Trung Quốc qua các triều đại - nhiều tác giả,

Leave a Reply

Hãy là người đầu tiên bình luận!

Notify of
avatar