Hán Cảnh Đế: Lưu Khải

Hán Cảnh Đế tên thật là Lưu Khải, con thứ 3 của Hán Văn Đế, tuổi Sửu. Khi còn trẻ thì chơi bời lêu lổng nhưng sau khi kế vị thì lại trở thành một hoàng đế nghiêm túc nhân từ, có nhiều công lao to lớn. Các sử gia không thể lý giải được sự thay đổi to lớn của ông. Lưu Khải tại vị 16 năm, sau mắc bệnh mà chết, thọ 48 tuổi.

Hán Cảnh Đế: Lưu Khải. Ảnh minh họa
Hán Cảnh Đế: Lưu Khải. Ảnh minh họa

Năm sinh: 188 TCN

Năm mất: 141 TCN

Nơi an táng: Dương Lăng (phía tây nam huyện Cao Lăng tỉnh Thiểm Tây ngày nay).

Thụy hiệu: Hiếu Cảnh Hoàng Đế.

Trước: Lưu Hằng

Sau: Lưu Triệt

Công – tội: Kiên quyết bình định nội loạn, diệt trừ các phiên hầu, duy trì sự thống nhất của quốc gia. Kế tục chính sách an dân của Văn Đế, dốc sức vì việc nước, phát triển sản xuất, cùng tạo nên thời kỳ thịnh trị Văn – Cảnh trong lịch sử Trung Quốc. Chỉ có điều , ông triệt tiêu các phiên hầu không triệt để, để lại mối họa ẩn tàng cho đời sau.

Thời thanh niên, Lưu Khải chỉ chơi bời lêu lổng, đam mê tửu sắc. Khi làm thái tử cũng không có gì tiến bộ, thường xuyên bị phụ hoàng trách mắng. Một lần do tranh chấp khi chơi cờ với con trai của Ngô Vương Lưu Tỵ, Lưu Khải đã đánh chết hắn.

Năm 32 tuổi, Lưu Khải được kế vị.

Dẹp loạn chư hầu  7 nước

Sau khi làm hoàng đế, Lưu Bang phong đất cho 9 người họ hàng, ông đã ban cho họ quyền lực quá lớn. Họ có thể tự định ra pháp luật và tự mình chấp chính. Ngoài việc mỗi năm cống nạp cho triều đình trung ương một số vật phẩm nhất định thì họ vẫn là những quốc gia độc lập. Tai họa do việc phong đất của thiên tử nhà Chu lại tái diễn.

Những vương hầu này có nhiều đất phong, có quân đội đông đảo, dần dần hình thành ý phản nghịch.

Thời Văn Đế đã phát hiện chư hầu có thái độ khinh miệt, ngạo mạn và khuynh hướng phân chia nhưng vẫn cố gắng duy trì cục diện thống nhất, dùng chính sách hòa hoãn, mềm dẻo với họ, bởi một khi chiến sự nổ ra, cục diện thái bình hiện tại sẽ bị hủy hoại.

Đến thời Lưu Khải, các chư hầu đã rục rịch nổi dậy.

Các đại thần trong triều rất lo lắng nhưng bọn họ cho rằng đây là việc của nhà họ Lưu nên không tiện can dự. Hơn nữa, thế lực của các chư hầu quá lớn, nếu tham dự vào việc này thì không khéo sẽ bị thân bại danh liệt nên không ai dám đả động đến.

Có một vị đại thần tên là Tiểu Thố nhiều lần cảnh tỉnh cảnh Đế chú ý đến tình hình các chư hầu. Ông phân tích mọi hành động khác thường của các chư hầu, nêu ra những chứng cớ xác đáng. Tiểu Thố là quan Ngự sử đại phu, thường qua lại với cảnh Đế, rất được nhà vua tin tưởng.

Lưu Khải nghe theo lời khuyên của Tiểu Thố, quyết tâm bình định các phiên vương.

Năm 154 TCN, Lưu Khải mượn cớ bắt đầu tịch thu một phần đất phong của các phiên hầu Sở Vương, Triệu Vương, Giao Đông Vương nhưng vẫn không dám động đến Ngô Vương Lưu Tỵ nên gây ra nhiều tranh chấp. Các phiên hầu vô cùng bất mãn.

Lưu Khải không lường được các phiên hầu lại phản ứng kịch liệt như vậy, lại hỏi ý Tiểu Thố. Tiểu Thố kế nghị rằng ông nên tịch thu triệt để đất phong của phiên hầu.

Lưu Khải lại hạ lệnh tịch thu 2 quận Cối Kê và Dự Chương của Ngô Vương Lưu Tỵ khiến Lưu Tỵ rất tức giận bèn lập tức huy động 30 vạn binh mã và liên minh với chư hầu các nước Sở, Triệu, Giao Tây, Giao Đông, Truy Xuyên, Tế Nam tiến về Trường An với danh nghĩa giúp hoàng đế diệt trừ gian thần Tiểu Thố, “làm sạch chỗ bên cạnh vua”.

Lưu Khải hoang mang, nghi ngờ quyết sách đối với các phiên hầu có phải là chính xác hay không. Đúng lúc đó, đại thần Viên Áng khuyên Lưu Khải nên giết Tiểu Thố để làm yên lòng quân chư hầu vì các chư hầu chỉ oán một mình Tiểu Thố. Lưu Khải nghe theo, sai bắt giữ Tiểu Thố, áp giải ra phố chém ngang lưng.

Nhưng các chư hầu vẫn không hề lui binh mà lại càng hung hãn hơn. Ngô Vương Lưu Tỵ tự xưng là Đông Đế, tỏ ra rất hung hăng. Lúc này, Lưu Khải mới nhận ra mình đã bị mắc bẫy. Ông quyết tâm đích thân chỉ huy việc dẹp quân phản loạn.

Ông phái thái úy Chu Á Phu thống lĩnh 36 vạn đại quân thảo phạt quân chư hầu. Chu Á Phu trí dũng hơn người, không những chỉ tấn công chính diện mà còn phái người chặt đứt đường vận chuyển quân lương của địch khiến chúng không đánh mà tự lui. Lưu Khải lại phái Đại tướng quân Đậu Anh tham chiến, nhanh chóng thay đổi cục diện trận chiến. Không đầy 3 tháng sau, phản quân đã bị quét sạch. Sở Vương và Triệu Vương tự sát. Ngô Vương Lưu Tỵ bỏ trốn sang Đông Việt, sau đó bị người Việt giết. Bốn phiên vương còn lại đều bị bắt sống. Loạn bảy nước được bình định, non sông lại quy về một mối.

Sau loạn bảy nước, Lưu Khải lại phong cho 13 hoàng tử làm chư hầu nhưng thu nhỏ quyền lực của phiên vương. Đất phong chỉ là thục ấp của chư hầu còn mọi quyền hành chính, tư pháp, quân sự… đều thuộc về trung ương. Các phiên vương chỉ là tên gọi khác của chức quận thủ. Dù vậy, đến thời Vũ Đế, những chư hầu này lại vẫn không chịu an phận.

Hậu dẹp loạn chư hầu

Tuy loạn bảy nước chỉ xảy ra trong vài tháng nhưng đã ảnh hưởng đến hơn một nửa đất nước, khiến cho kinh tế sa sút. Lưu Khải lại tiếp tục thực hiện chính sách an dân, khoan dung của phụ thân.

Đầu tiên, ông hủy bỏ lệnh cấm di cư, cho phép dân chúng tự do đi lại, nên rất nhiều người đến khai hoang ở những vùng hoang vu. Và lại thực hiện chế độ “thập tam thuế nhất’ thời Văn Đế. Ông và hoàng hậu còn tự mình làm ruộng, nuôi tằm làm gương cho dân chúng.

Lưu Khải là một vị hoàng đế tốt

Lưu Khải là một hoàng đế nhân từ, thương yêu dân chúng. Trong thời gian tại vị, ông đã vài lần đại xá thiên hạ và giảm nhẹ các hình phạt, bãi bỏ các hình phạt tàn khốc, vô nhân đạo.

Thời Cảnh Đế, các học thuật lại có điều kiện để phát triển mạnh mẽ. Bản thân ông sùng bái Hoàng Lão nhưng không coi nhẹ những học thuật khác, đặc biệt ưu ái Nho gia, phong cho nhiều nhà Nho làm quan Bác sĩ, tạo cơ sở cho việc Vũ Đế độc tôn Nho học sau này.

Đối với những dân tộc ở vùng biên giới, Lưu Khải tiếp tục thực hiện chính sách ôn hòa, cầu thân. Khi Hung Nô nhiều lần xâm phạm biên cương ông cũng vẫn giữ nguyên chính sách ấy, có vẻ như là nhu nhược nhưng đổi lại, Trung Quốc được thanh bình, yên ổn suốt mấy chục năm.

Lưu Khải đối với dân chúng trong nước thì nhân từ, đối với bên ngoài ôn hòa nên dân giàu nước mạnh, quốc khố dồi dào.

Tháng giêng năm 141 TCN, Lưu Khải ốm nặng, biết không thể qua khỏi, ông lại thực hiện hai việc cảm động lòng người. Một là mang tài sản của mình tặng cho các chư hầu và dân chúng; Hai là cho các cung nữ trở về nhà và ban cho họ tiền của đủ để sống sung túc. Ông mất trong cung Vị Ương, thọ 48 tuổi, an táng tại Dương Lăng.

Chính Sử Trung Quốc qua các triều đại - nhiều tác giả,

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of